Nghệ thuật cần rơi thẳng vào tâm hồn và trái tim, lờ đi quá cảnh vào lĩnh vực trí tuệ.
Ernst Ingmar Bergman 
(1918 - 2007)



CẶP ĐÔI HOÀN HẢO

Khi kết hợp một số màu nhất định sẽ tạo ra một màu mất sắc: đen, xám, trắng. Nếu như tương ứng chọn ra hai màu hoặc một nhóm ba màu, chúng ta cũng nhận được kết quả tương tự. Khi tất cả các sắc màu của quang phổ ánh sáng ban ngày được thu hợp lại cùng nhau, thì chúng sẽ tạo ra một hỗn hợp màu tiêu sắc. Sự kết hợp của các màu có thể có vị thế trong hai phương án, được biết đến với tên gọi «trộn màu cộng hợp» và «trộn màu bù trừ». Trộn màu cộng hợp sẽ đạt được khi các tia màu đa dạng được chiếu lên một và chỉ một điểm của màn hình, hoặc, khi các điểm sắc tố trên vải vẽ được đặt gần nhau đến nỗi, chúng hoà lẫn vào nhau trong nhận thức. Trong các thực nghiệm tâm lý, phép trộn màu cộng hợp có thể đạt được dễ dàng theo cách sau đây. Một vài múi màu khác nhau được xếp kín vào đĩa tròn. Sau đó người ta dùng động cơ để quay đĩa này với một vận tốc quay lớn. Nếu khi đó các màu được cộng hợp sao cho ở kết quả chúng ta nhận được màu trắng hoặc xám, thì có thể nói, chúng bổ sung cho nhau.


CÁC QUY TẮC PHA MÀU

Các pha trộn nhận thức được của màu sắc được chia làm ba nhóm: các màu nằm giữa đỏ và lam, lam và vàng, vàng và đỏ. Trong giới hạn của mỗi nhóm này cần phân biệt sự pha màu, khi hai màu căn bản nằm trong trạng thái cân bằng, với sự pha màu, khi một trong hai sắc màu căn bản giữ vai trò thống trị. Nếu vì mục đích thuận tiện và đơn giản mà loại bỏ những sắc màu bổ sung nhận được khi kết hợp thêm với đen và trắng, chẳng hạn như các sắc nâu khác nhau, chúng ta sẽ nhận được một hệ thống tính đến chín pha trộn cơ bản.


CÁC NGUYÊN TỐ CỦA GAM MÀU

Chúng ta đang biết điều gì về cú pháp màu sắc, có nghĩa về các tính chất nhận thức cho phép các màu sắc đa dạng tương tác với nhau? Trước hết, cái gì được gọi là các đơn vị cơ bản của bố cục màu sắc và số lượng của chúng là bao nhiêu? Gam màu đã thân thuộc với chúng ta từ phân tích quang phổ ánh sáng mặt trời. Độ sáng và độ no của màu sắc cũng tạo thành các gam thay đổi uyển chuyển từ mức thấp nhất đến mức cao nhất của những chất lượng đó. Số lượng cực đại của các sắc xám nằm trong thang độ này giữa các màu trắng và đen mà một người bình thường có thể phân biệt, theo một số nghiên cứu đã được đúc kết, — đạt tới 200. Cũng đáng để đánh dấu rằng, con số các sắc màu khác nhau trong dải màu thuần tuý giữa hai màu cận biên — tím và đỏ tía — ít hơn rõ rệt, và bằng loanh quanh 160.


CÁC VÀNH ĐAI HÀI HOÀ

Trong các loại hình nghệ thuật thị giác, chất lượng biểu cảm là yếu tố quan trọng, nhưng không phải là đối tượng duy nhất trong nghiên cứu màu sắc. Song song với điều này, cần nghiên cứu, cái gì có thể được gọi là cú pháp của bố cục màu sắc, là một trong số những quy luật của tổ chức kết cấu. Các hoạ sỹ cảm nhận được các quy luật này một cách tinh tế đáng ngạc nhiên, đã làm theo bản năng ở một mức độ lớn, chứ không chạy theo các luật lệ cứng nhắc. Có thể phán xét về điều đó dựa theo các nhận xét nhỏ giọt của họ được lưu giữ trong các công trình và ghi chép còn sót lại.


MÀU SẮC ƯA THÍCH

Các nghiên cứu trong lĩnh vực này đã được tiến hành, theo cách cơ bản, với những màu thường làm cho người ta thích. Một phần, điều đó được giải thích bằng sự thú vị trong các nghiên cứu các đại diện nhân chứng làm trong ngành công nghiệp nhẹ, còn một phần khác là vì, phần lớn các công việc trong cái được gọi là thẩm mỹ thực nghiệm vẫn còn đang dựa vào một hình dung, cho rằng chức năng cơ bản của nghệ thuật — khiến cho người ta thoả mãn và thư giãn. Để đạt được sự hiểu biết nghệ thuật ở một mức nào đó, có lẽ, có thể cần chấp nhận quan điểm, rằng nghệ thuật, cũng như tất cả những thứ đáp ứng nhu cầu của chúng ta, tạo nên cảm xúc hả hê, và nhiệm vụ của các bạn nằm ở chỗ, làm sao để trả lời các câu hỏi sau: những đòi hỏi này có nghĩa là gì và bằng cách nào mà chúng được đáp ứng? Liên quan đến các vấn đề đang được xem xét, chúng ta cần biết, khán giả nhìn thấy gì, khi họ nhìn vào các màu sắc đa dạng, và một thông tin như thế có thể làm cho mong muốn và đòi hỏi của họ được thoả mãn hay không.


BIỂU CẢM CỦA MÀU SẮC

Như đã thấy, tất cả mọi người đều đồng ý rằng, các màu sắc được phân biệt theo sự biểu cảm đặc thù của chúng. Để chứng minh điều này, người ta đã tiến hành không ít thực nghiệm. Ghi chép sống động và tươi sáng về các màu sắc cơ bản, mà Goethe đã thiết lập, cho đến thời điểm hiện tại đang là nguồn trích dẫn tốt nhất. Các bài luận của ông, viết riêng cho phân tích các sắc màu cơ bản, thể hiện ý kiến và ấn tượng chỉ của một con người, nhưng lại được bày tỏ qua bờ môi của một nhà thơ biết cách diễn đạt những gì ông nhìn thấy. Cũng có phần nào đó về diễn giải vấn đề sự biểu cảm của màu sắc thông qua những lý lẽ thuyết học, — được Kandinsky¹ đóng góp, mặc dù các nhận định số đông của ông mang tính cách không mạch lạc. Những quan sát ngẫu nhiên về tác động của các màu sắc đa dạng từ môi trường xung quanh tới con người đã từng được tìm cách thuyết phục bởi các họa sỹ trang trí, các họa sỹ thiết kế và các bác sỹ trị liệu. Tất cả những quan sát này được tóm tắt trong ví dụ về «một người Pháp dí dỏm», anh ta, như Goethe đã nói, cho rằng, âm giọng trò chuyện với vợ đã thay đổi tùy thuộc vào việc cô ấy chọn bộ màu nào để trang trí căn phòng của anh ấy.


NÓNG VÀ LẠNH

Hầu như chưa có bất kỳ nỗ lực nào tốt hơn để phân nhóm sự biểu cảm của các màu sắc khác nhau thành những tiêu chí chung, hơn là «nóng» và «lạnh». Sự khác nhau giữa màu nóng và màu lạnh, dĩ nhiên, chỉ là chung chung nhất. Các họa sỹ thường xuyên sử dụng những khái niệm này. Các sách vở thường trích dẫn lý thuyết về màu sắc. Nhưng những nhận xét ngắn gọn về vấn đề này, dựa trên những ấn tượng chủ quan của chính các tác giả, lại không đưa ra bất cứ tài liệu nào có thể thỏa mãn thuyết tâm lý. Các quan sát thực nghiệm của Ollesch về chủ đề này, như có thể bàn luận theo các trích dẫn ngắn gọn của ông, đã dẫn đến một thực trạng không mấy thuyết phục trong kết quả. Có thể, trong các điều kiện đã có, tôi xin phép trình bày ý tưởng của mình. Nó chưa được kiểm tra thông qua con đường thực nghiệm và có thể, vì thế, có vẻ như không đáng tin cậy, nhưng nhờ vào đó, các nhà nghiên cứu sẽ nhận được ít nhất là mục tiêu để sẽ có thể chỉ đạo mũi tên chỉ trích của họ.



More:



QUAN ĐIỂM QUY NẠP BỘ QUÃNG BA

Hợp âm là những «người» đại diện cho giai âm, là những thanh âm vang lên đồng thời hoặc nối tiếp trong một không gian riêng biệt của một ngôi nhà chung mang tên tác phẩm. Bởi vậy các thanh âm của hợp âm có quy luật linh hồn của riêng chúng, không tách rời khỏi giá trị toàn vẹn và thống nhất. Vậy có thể đưa ra một định nghĩa thế nào cho ngôn từ «hợp âm» để vừa phù hợp với các quan niệm cổ điển, vừa không nghịch lý với những diễn biến hiện đại của thế kỷ XX-XXI?


CHƯƠNG III — PHÂN LOẠI GIAI ÂM (P4)

Trước khi chuyển sang nghiên cứu hợp âm, chúng ta cùng tạm khép lại chương III với bài viết phân loại các hệ thống giai âm. Chúng ta cũng đã biết về phép biện chứng quy sự hình thành của các hệ thống giai âm có nguồn gốc từ ngữ âm, tôn giáo, sinh hoạt âm nhạc dân gian. Giai âm là một vấn đề trừu tượng, có thể nói, rất khó để hình dung. Nhưng nếu như ngữ âm có thể hiểu được, thì giai âm cũng không phải là không có kênh tiếp cận.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P3)

Như đã biết, cái đẹp trong một tác phẩm nghệ thuật bất kỳ, đó là cảm nhận chung. Nói riêng trong âm nhạc, trong vòng 5-10 phút thưởng thức, nếu bộ máy thính giác chỉ nhận được các quãng thuận âm, chỉ phân tích các âm thanh tròn trịa, thẩm mỹ về cái đẹp sẽ gặp tình trạng thoái trào. Tác phẩm nghệ thuật bất kỳ luôn luôn là một cơ thể có cá tính (chủ đề), có phát triển trong mạch xuyên suốt (ngẫu hứng), và có tái hiện, kết ý (finalis), v.v... Mời các bạn tham khảo bài giảng tiếp theo của Kholopov về giai âm.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P2)

Loài người đang sống trong thế kỷ thứ XXI. Dù là tự nguyện hay ép buộc, chúng ta đang chứng kiến những thay đổi vượt tầm hình dung của các nhạc sỹ cổ điển tây phương những thế kỷ trước. Cũng phải thôi, sự tiến hóa luôn luôn diễn ra, chỉ có điều, với một thời gian quá ngắn ngủi, chúng ta chưa kịp thích một điều gì đó mới mẻ thì đã bị những niềm đam mê xưa cũ chiếm lĩnh toàn bộ thời gian và tâm trí. Giai âm cũng có lịch sử và sự tiến hóa của mình, điều đó được đề cập đến trong phần viết này của tác giả Kholopov.


CHƯƠNG III — GIAI ÂM (P1)

Trong tiếng Nga có từ Лад, đọc là Lad, hàm ý ám chỉ sự đồng thuận đồng ý. Và trong ngôn ngữ dân dã, người ta vẫn thường nói ладно (ladno) — có nghĩa là «thôi được», «thôi cũng được», «nhất trí nhé», vân vân. Vậy phải chăng giai âm là một sự ước lệ của sự thuận tai? Và rất có thể, nó liên quan cụ thể đến các nền văn hoá, khi đó chúng ta có các giai âm khác nhau.


CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P3).

Thuận âm và nghịch âm là vấn đề quan trọng nhất trong mọi thời đại, nếu đề cập tới lý thuyết âm nhạc. Thật thú vị, con người cảm âm, trước tiên, là theo bản năng, rồi sau đó mới theo khía cạnh giáo dục. Còn những vị tổ của môn khoa học hòa âm, những thiên sứ của Vũ Trụ gửi xuống, đã để lại cho chúng ta một kho tàng quá đồ sộ về các bí mật của thế giới âm nhạc. Để đọc nốt nốt chương II, chúng ta dùng nhạc nền là bài hát Julia của John Lennon huyền thoại.


CHƯƠNG II - THUẬN ÂM VÀ NGHỊCH ÂM (P2).

Nếu bạn nói với một đứa trẻ, bảo nó hát hai âm cao bằng nhau, nó sẽ làm được ngay. Nhưng khi câu chuyện tiến xa hơn, liên quan đến các quãng khác, đầu óc như tờ giấy trắng của trẻ nhỏ cần có thời gian tiếp xúc, lắng nghe, ghi nhớ, luyên tập để có thể phản xạ lại chính xác. Trong âm nhạc còn nhiều bí mật ở các khía cạnh khác nhau mà chúng ta có thể tìm hiểu qua sách của Kholopov. P2 nói về vấn để quãng tám, phát hiện ra quy luật tâm sinh lý cũng như toán lý của nó. Và, chính từ đó, đào sâu vào tính chất của các thuận âm và quy tắc cộng hưởng.



More:



PHÍA SAU LƯNG NƯỚC NGA

Nước Nga đón tôi bằng một xi lanh hút máu 45ml ở sân bay, làm thằng bé 45kg suýt ngất. Không sao, cô y tá xinh đẹp cho thằng bé ngửi bông tẩm sam-ma-gôn (rượu nút lá chuối của xứ đó), nó tỉnh lại tức thì.


CẢM NGHĨ VỀ MÁY PHIM

Sau đôi ba năm nhìn màn hình laptop hàng ngày trong ánh sáng run bần bật của đèn neon, mắt ai rồi cũng có phần kèm nhèm. Thế nên có dịp Tết nghỉ lâu lâu là tôi lại muốn vút đi đâu đó để lấy lại cảm giác nhìn về vô tận. Đôi mắt là ống kính tốt hơn bất kì ống kính máy ảnh nào, (trừ ống kính có chữ Leitz), nên cần bảo vệ chúng một chút không lại phụ công cha mẹ đã tặng cho mình.



MIDI — THEO DÒNG LỊCH SỬ

Thuật ngữ MIDI đã xuất hiện từ rất lâu. Đó là một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc điện tử. Hiểu biết ngôn ngữ này ở một mức độ nhất định — điều kiện cần cho các nhạc sỹ hoà âm phối khí trong môi trường điện toán.